Đang tải trang
ĐỘI NGŨ THỰC HIỆN
Bài viết: Hạ Uyên Nhiếp ảnh: Viết Thanh Thiết kế: Vinh
Chịu trách nhiệm sản xuất: Đỗ Quốc Trung - Việt Trần Đạo diễn: Đặng Thùy Trang - Trần Hào Khang
Dựng phim: Đặng Thùy Trang - Trần Hào Khang Quay phim: Trần Hào Khang
Quay lại
Tên Đề cử Ekip thông tim can thiệp bào thai của BV Nhi Đồng 1 và BV Từ Dũ
ĐỀ CỬ HẠNG MỤC Nhân vật truyền cảm hứng
Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ - Ảnh 2.

“Bác sĩ ơi, cứu lấy con em, hết cách rồi…” 

Câu nói vang lên trong phòng khám cách đây gần 2 năm đến nay vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ. Đó là lời cầu cứu của vợ chồng trẻ đến từ Đà Nẵng khi hay tin thai nhi mắc dị tật tim bẩm sinh nặng: tim không có lỗ van động mạch phổi, thiểu sản thất phải, nguy cơ thai lưu khá cao.

Qua theo dõi diễn tiến siêu âm tim thai, các bác sĩ nhận thấy tổn thương hiện lên ngày một rõ ràng. Trái tim thai nhi dày lên bất thường, trong khi khoang chứa ngày càng thu hẹp. Nếu chọn sinh sớm, nguy cơ tử vong sau sinh gần như chắc chắn bởi non tháng lại kèm bệnh tim phức tạp.

Không có lựa chọn nào dễ dàng.

 - Ảnh 1.

 Những cuộc hội chẩn liên viện giữa Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1 kéo dài liên tục.

Các bác sĩ đứng trước một quyết định nặng trĩu: can thiệp hay không? Và liệu, khi quyết định can thiệp thì tỷ lệ thành công sẽ là bao nhiêu?

Can thiệp tim bào thai xuyên tử cung - một trong những kỹ thuật khó nhất của y học hiện đại với Việt Nam lúc đó vẫn chỉ gói gọn trong hai chữ: Lần đầu!

Cuối cùng, trước tình thế cấp bách, được sự phê duyệt của lãnh đạo Sở Y tế, ban giám đốc bệnh viện, ê-kíp thống nhất phối hợp thực hiện thông tim bào thai xuyên tử cung lần đầu tiên tại Việt Nam với hy vọng: mở ra con đường sống ngay từ khi thai nhi còn chưa chào đời.

“Câu nói ‘Bác sĩ ơi, cứu con…’ chính là động lực khiến tôi phải về suy nghĩ rất nhiều trước khi đưa ra quyết định. Kỹ thuật thông tim can thiệp bào thai thuộc nhóm cao nhất của y học bào thai hiện đại mà đó là lần đầu tiên chúng tôi thực hiện. - BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ.

 - Ảnh 2.

 “Câu nói ‘Bác sĩ ơi, cứu con…’ chính là động lực khiến tôi phải về suy nghĩ rất nhiều trước khi đưa ra quyết định. Kỹ thuật thông tim can thiệp bào thai thuộc nhóm cao nhất của y học bào thai hiện đại mà đó là lần đầu tiên chúng tôi thực hiện.

BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ

“Trái tim em bé chỉ nhỏ như 1 quả dâu tây”

“Trái tim em bé chỉ nhỏ như một quả dâu tây”, TS.BS Đỗ Nguyên Tín - Trưởng Đơn vị Can thiệp Tim mạch, Bệnh viện Nhi đồng 1, nhớ lại. “Chỉ cần sai lệch rất nhỏ, tim có thể ngừng đập ngay lập tức”.

Là người đã có nhiều năm học tập, quan sát và trực tiếp chứng kiến các ca can thiệp tim bào thai tại nước ngoài, TS.BS Đỗ Nguyên Tín hiểu rất rõ mức độ khó và rủi ro của kỹ thuật này.

Đó là kết quả của một quá trình chuẩn bị vô cùng công phu, tính toán kỹ từng “đường đi nước bước”, cùng sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa nhiều chuyên khoa, để từng thao tác trong phòng mổ đạt độ chính xác gần như tuyệt đối. Điều khó nhất là luồn kim đi đúng hướng vào tim thai để đưa dụng cụ vào.

 - Ảnh 3.

Không chỉ cần một bác sĩ thông tim giỏi, còn phải gây mê bào thai để em bé nằm yên, phải có bác sĩ siêu âm tim xác định chính xác từng cấu trúc tim. Phải có ê-kíp sản khoa đủ kinh nghiệm xử lý mọi tình huống trong buồng tử cung, nơi từng được coi là “bất khả xâm phạm”.

Những công đoạn khó khăn này đã được BSCKII Trịnh Nhựt Thư Hương - Trưởng khoa Chăm sóc trước sinh; bác sĩ Tào Tuấn Kiệt, chuyên gia gây mê hồi sức tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Đỗ Thị Cẩm Giang, chuyên gia về siêu âm tim của Nhi đồng 1 cùng ê-kíp nhiều kinh nghiệm trong chẩn đoán, can thiệp bào thai của hai bệnh viện đảm nhiệm.

 - Ảnh 4.

Bác sĩ Giang nhớ lại, với ca can thiệp đầu tiên, số lần hội chẩn lên tới 6-7 lần. Mỗi cuộc họp là một lần cân nhắc lại toàn bộ kịch bản: chỉ định, nguy cơ, khả năng thành công, những tình huống xấu nhất có thể xảy ra.

Thậm chí, khi sản phụ đã được đưa lên bàn mổ vẫn được mời xuống phòng hội chẩn để tiếp tục xin ý kiến lần cuối với PGS.TS.BS Tăng Chí Thượng - Giám đốc Sở Y tế TP.HCM cùng BGĐ bệnh viện. Sản phụ được hỏi lại một lần nữa: có đồng ý thực hiện ca can thiệp hay không và có tin tưởng vào ê-kíp hay không? “Bệnh nhân trả lời dứt khoát 100%”, bác sĩ Giang kể.

Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ - Ảnh 5.

Hơn 15 con người, thuộc 5 chuyên khoa trong phòng can thiệp hôm ấy. Mỗi người một nhiệm vụ nhưng chung một áp lực. Khi van tim được nong thành công, khi kim luồn được rút ra khỏi tử cung người mẹ, trái tim bé nhỏ vẫn đập đều, cả ê-kíp mới dám thở phào.

Họ reo vui, ôm chầm lấy nhau, những đôi mắt đỏ hoe vì vỡ òa.

Ca can thiệp tim bào thai xuyên tử cung đầu tiên tại Việt Nam đã thành công như thế!

 - Ảnh 6.
Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ  - Ảnh 9.
Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ  - Ảnh 11.

Không được phép bỏ cuộc!

Những ca tiếp theo diễn ra trong tâm thế khác: bớt lạ lẫm nhưng không bao giờ hết căng thẳng.

“Can thiệp thông tim ở trẻ em đã không hề đơn giản, còn thông tim bào thai thì mức độ khó tăng lên gấp nhiều lần. Áp lực đặt nặng lên toàn bộ đội ngũ nhân viên y tế. Nếu có bất cứ điều gì không may xảy ra, trách nhiệm cuối cùng sẽ thuộc về lãnh đạo bệnh viện”, BS CKII Nguyễn Thị Thanh Hương, Phó Giám đốc kiêm Trưởng khoa Sơ sinh 2 - Chuyển hóa - Di truyền, Bệnh viện Nhi đồng 1 chia sẻ.

 - Ảnh 1.

Nhưng “nút đẩy” cuối, mạnh mẽ nhất khiến các bác sĩ không cho phép mình bỏ cuộc, lại đến từ một nơi khác: niềm tin của gia đình bệnh nhân.

Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, khi mọi rủi ro đều được nói rõ, khi không ai dám chắc điều gì, gia đình đã chọn đặt trọn niềm tin vào đội ngũ y bác sĩ. Họ ký vào quyết định can thiệp với một niềm tin gần như tuyệt đối, hơn cả 100% rằng các bác sĩ sẽ làm tất cả những gì tốt nhất cho con mình.

“Chính ánh mắt và niềm hy vọng của gia đình khiến chúng tôi không cho phép mình bỏ cuộc”, BS.CK2 Đỗ Thị Cẩm Giang hồi tưởng. “Khi người nhà đã tin mình đến vậy, mình chỉ có thể làm hết sức, thậm chí vượt quá giới hạn của bản thân”.

“Chính ánh mắt và niềm hy vọng của gia đình khiến chúng tôi không cho phép mình bỏ cuộc”

“Khi người nhà đã tin mình đến vậy, mình chỉ có thể làm hết sức, thậm chí vượt quá giới hạn của bản thân”

BS.CK2 Đỗ Thị Cẩm Giang hồi tưởng

Từ ca đầu tiên ấy, niềm tin dần được nhân lên. Kinh nghiệm được tích lũy, quy trình ngày càng hoàn thiện, sự phối hợp giữa hai bệnh viện ngày càng nhuần nhuyễn. Và quan trọng hơn cả, mỗi thành công lại tiếp thêm động lực để ê-kíp tiếp tục bước vào những ca khó tiếp theo.

Tiếp nối ca thông tin bào thai ngày 4/1/2024, ca thông tim bào thai thứ hai ngày 12/1/2024 cũng suôn sẻ.

“Đứng trước kỹ thuật quá mới với rất nhiều áp lực của người đi đầu, ai cũng lo lắng. Thủ thuật luôn đi kèm những rủi ro, trong khi chưa có hành lang pháp lý bảo vệ. Nếu thất bại, có thể đó sẽ là dấu chấm hết của kỹ thuật này. Dù rất lo nhưng các em bé không thể chờ, diễn tiến bệnh không thể chờ, chúng tôi phải nỗ lực hết mức có thể để triển khai kỹ thuật. Thêm rằng các bé ra đời không phải thở oxy là món quà "gần như vô giá" với nhân viên y tế”, BS.CK2 Trịnh Nhựt Thư Hương.

Đứng trước kỹ thuật quá mới với rất nhiều áp lực của người đi đầu, ai cũng lo lắng. Thủ thuật luôn đi kèm những rủi ro, trong khi chưa có hành lang pháp lý bảo vệ. Nếu thất bại, có thể đó sẽ là dấu chấm hết của kỹ thuật này. Dù rất lo nhưng các em bé không thể chờ, diễn tiến bệnh không thể chờ, chúng tôi phải nỗ lực hết mức có thể để triển khai kỹ thuật. Thêm rằng các bé ra đời không phải thở oxy là món quà "gần như vô giá" với nhân viên y tế.

BS.CK2 Trịnh Nhựt Thư Hương
 - Ảnh 2.

Khi kỳ tích vượt ra khỏi biên giới

13 ca can thiệp đều để lại dấu ấn đặc biệt. Như bác sĩ Trịnh Nhựt Thu Hương nói, mỗi khi ngồi lắng lại và nhớ về chặng đường đã qua, 13 ca can thiệp tim bào thai hiện lên rõ ràng như nằm gọn trong lòng bàn tay. Chị nhớ từng gương mặt người mẹ, từng tuổi thai, từng khoảnh khắc căng thẳng trong phòng can thiệp, cả những giây phút nín thở chờ đợi và vỡ òa khi nghe tín hiệu thành công.

Song trong số đó, có những trường hợp được nhắc lại nhiều lần, bởi mức độ phức tạp và áp lực chuyên môn chưa từng có.

Ca thứ 9 kéo dài hơn 6 giờ, phải can thiệp hai lần là thai nhi của một sản phụ Singapore. Thai mới hơn 22 tuần, nặng khoảng 600 gram, mắc dị tật tim phức tạp, từng được khuyến nghị chấm dứt thai kỳ tại quê nhà.

Bệnh viện đã đưa sản phụ sang Việt Nam. Khi nhập Bệnh viện Từ Dũ, thai 25 tuần tuổi. Sau hội chẩn giữa Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Nhi Đồng 1 và các chuyên gia quốc tế, các bác sĩ thống nhất: nếu không can thiệp, thai chắc chắn không qua khỏi; nếu can thiệp thất bại, thai có thể tử vong ngay trong tử cung.

Ngày 22/5/2024, ca nong van động mạch chủ trong tử cung được tiến hành nhưng buộc phải tạm dừng do tư thế thai bất lợi. Phần khó nhất lúc này là làm sao để xoay thai về tư thế thuận lợi. Bác sĩ Thu Hương đảm nhận nhiệm vụ này.

“Tư thế thai phải thật sự thuận lợi thì đường kim mới có thể tiếp cận chính xác. Để đạt được tư thế đó, ê-kíp buộc phải chỉnh tư thế thai, điều đặc biệt khó khi thai còn nhỏ.

Bên cạnh đó, thai nhi cần nằm yên tuyệt đối trong suốt quá trình can thiệp. Vì thai vẫn có cảm giác đau, ê-kíp phải tiến hành gây mê, an thần, giảm đau và giãn cơ cho thai nhi. Trong khoảnh khắc ấy, các bác sĩ tương tác và chăm sóc em bé như một bệnh nhi thực thụ đang nằm trong tử cung của người mẹ”, bác sĩ Thư Hương chia sẻ.

“Tư thế thai phải thật sự thuận lợi thì đường kim mới có thể tiếp cận chính xác. Để đạt được tư thế đó, ê-kíp buộc phải chỉnh tư thế thai, điều đặc biệt khó khi thai còn nhỏ.
Bên cạnh đó, thai nhi cần nằm yên tuyệt đối trong suốt quá trình can thiệp. Vì thai vẫn có cảm giác đau, ê-kíp phải tiến hành gây mê, an thần, giảm đau và giãn cơ cho thai nhi. Trong khoảnh khắc ấy, các bác sĩ tương tác và chăm sóc em bé như một bệnh nhi thực thụ đang nằm trong tử cung của người mẹ”

Bác sĩ Thư Hương chia sẻ
 - Ảnh 3.

6 ngày sau, ca can thiệp lần hai được thực hiện. Chỉ trong vài giây quyết định, ê-kíp xuyên kim vào buồng thất trái, nong van động mạch chủ thành công. Tim thai nhanh chóng hồi phục, dòng máu qua van cải thiện rõ rệt, khép lại ca can thiệp khó và dài nhất từ trước đến nay.

Cuối năm 2025, một ca có yếu tố nước ngoài khác được thực hiện thành công, cũng là ca đầu tiên sau khi Bộ Y tế chính thức phê duyệt danh mục kỹ thuật can thiệp tim bào thai. Thai phụ là chị N.T. (sinh năm 1999, TP.HCM), chồng là người Malaysia.

Tại thời điểm thủ thuật, ê-kíp đã linh hoạt điều chỉnh tư thế, sau đó xuyên kim và nong van động mạch phổi thành công ngay lần đầu, bảo đảm độ chính xác cao và rút ngắn thời gian can thiệp.

Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ  - Ảnh 15.
Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ  - Ảnh 17.

“Tôi hỏi “có làm được không”, bác sĩ Tín nói 2 chữ “làm được”!

Với ca số 13 ngày 7/1/2026, ca can thiệp thông tim cuối cùng (tính đến thời điểm hiện tại), các bác sĩ đánh giá đây là một trong 2 ca ấn tượng nhất của toàn bộ hành trình. Không chỉ vì độ khó mà còn bởi kỹ thuật được sử dụng hoàn toàn mới, khác biệt so với cả 12 ca trước đó.

Đây là một thai 28 tuần, con đầu lòng của một cặp vợ chồng trẻ. Kết quả siêu âm tim thai chuyên sâu cho thấy thai nhi mắc dị tật không lỗ van động mạch phổi kèm vách liên thất kín, một bệnh lý tim bẩm sinh hiếm gặp.

Diễn tiến bệnh quá nhanh và đặc biệt phức tạp khiến ê-kíp từng nghiêng về phương án “buông”, bởi không thể chờ đến mốc 30 tuần để chủ động xử trí “bắt bé”. Gia đình sản phụ cũng đã chuẩn bị tinh thần cho khả năng xấu nhất. Trên siêu âm, các bác sĩ nhận thấy màng ngăn trong tim thai dày bất thường.

 - Ảnh 1.

“Lúc đó tôi có cảnh báo với anh Tín (TS.BS Đỗ Nguyên Tín) : Anh ơi, trường hợp này có cách nào không? Anh Tín trả lời rất dứt khoát: Được. Làm được”, bác sĩ Giang nhớ lại. “Sau buổi hội chẩn liên viện, ê-kíp bước vào một ca can thiệp chưa từng có tiền lệ. Anh Tín và chị Hương phối hợp sử dụng hai nòng kim, mỗi người đảm nhận một hướng đi khác nhau, từng bước tiếp cận vùng tổn thương. Nếu xem lại clip, có thể thấy đường kim đi cực kỳ chuẩn xác, gần như không có sai số”.

Chia sẻ cụ thể về tình huống này, bác sĩ Tín nói thêm: “Thông thường, với màng ngăn mỏng, chúng tôi dùng dây nhỏ để xuyên qua. Nhưng khi màng quá dày, dây không đủ lực. Lúc đó phải dùng một cây kim nhỏ hơn đi trong lòng kim lớn để tạo đường, rồi mới luồn dây qua. Kỹ thuật này gọi là ‘mẹ bồng con’, vốn vẫn dùng trong can thiệp tim, nhưng chưa từng áp dụng trong tình huống như vậy. Khi gặp ca này, tôi nghĩ: tại sao mình không thử? Và may mắn kết quả thuận lợi”, TS Tín chia sẻ.

“Khi các ca can thiệp còn chưa diễn ra, tôi đã định hình sẵn đường đi trong đầu từ nhiều tuần trước. Ngay cả lúc ngủ, các phương án vẫn hiện ra. Với những ca khó, phức tạp, tôi luôn suy nghĩ rất nhiều. Chỉ khi chắc chắn đã có giải pháp, với tỷ lệ thành công khoảng 80-90%, tôi mới quyết định thực hiện. Nhất định sẽ không can thiệp khi còn mơ hồ. Sinh mạng bệnh nhân không thể mơ hồ được”, TS.BS Đỗ Nguyên Tín.

“Khi các ca can thiệp còn chưa diễn ra, tôi đã định hình sẵn đường đi trong đầu từ nhiều tuần trước. Ngay cả lúc ngủ, các phương án vẫn hiện ra. Với những ca khó, phức tạp, tôi luôn suy nghĩ rất nhiều. Chỉ khi chắc chắn đã có giải pháp, với tỷ lệ thành công khoảng 80-90%, tôi mới quyết định thực hiện. Nhất định sẽ không can thiệp khi còn mơ hồ. Sinh mạng bệnh nhân không thể mơ hồ được”

TS.BS Đỗ Nguyên Tín

Xem lại clip thực hiện ca số 13, bác sĩ Hương vẫn còn nguyên cảm xúc. “Rất đã. Đường kim đi đẹp, kỹ thuật đó không ai dạy mình cả. Trước mắt là một trở ngại rất lớn, nhưng nhờ có sự chuẩn bị từ kinh nghiệm những ca trước, anh Tín đã ‘chế’ ra một cách làm mới. Có lẽ, chúng tôi đủ duyên”.

10 năm chuẩn bị, 16 năm ươm mầm

Thành công của ca can thiệp tim bào thai đầu tiên tại Việt Nam không phải là kết quả của một quyết định nhất thời, càng không phải phép màu ngẫu nhiên của y học. Đó là trái ngọt của một hành trình rất dài - hơn một thập kỷ chuẩn bị bền bỉ của Bệnh viện Từ Dũ và 16 năm gây dựng nền móng chuyên sâu của Bệnh viện Nhi đồng 1.

Bệnh viện Từ Dũ đã có 10 năm chinh phục y học bào thai. Trong suốt 10 năm qua, hoạt động đào tạo và chuyển giao quốc tế được xác định là nền tảng quan trọng. Năm 2024, đơn vị thiết lập hợp tác chiến lược với Trường PREIS Firenze (Ý), qua đó tiếp cận trực tiếp những tiến bộ y học bào thai tiên tiến hàng đầu châu Âu.

Trên cơ sở đó, đến năm 2025, trung tâm chính thức đạt chứng nhận là Trung tâm can thiệp bào thai theo tiêu chuẩn châu Âu đầu tiên tại Việt Nam. Song song với hợp tác quốc tế, công tác chuẩn bị nguồn nhân lực, xây dựng mạng lưới chuyên môn và đầu tư trang thiết bị hiện đại được triển khai đồng bộ, tạo nền tảng vững chắc cho việc làm chủ các kỹ thuật can thiệp chuyên sâu.

 - Ảnh 2.

Còn ở Bệnh viện Nhi đồng 1, từ năm 2004 bắt đầu triển khai những ca phẫu thuật tim đầu tiên cho trẻ em. Những bước đi ban đầu ấy bắt nguồn từ nỗi trăn trở kéo dài của PGS.TS Vũ Minh Phúc, nguyên Chủ nhiệm khoa Nhi, Bệnh viện Nhi đồng 1, trước thực tế tỷ lệ trẻ mắc tim bẩm sinh tại Việt Nam luôn ở mức cao. Trong khi đó, điều trị nội khoa chỉ có thể giải quyết một phần và sớm bộc lộ nhiều giới hạn.

Ở các quốc gia có nền y học phát triển, phẫu thuật tim và can thiệp thông tim được xem là những phương thức điều trị song hành, đặc biệt với tim bẩm sinh ở trẻ em, nhóm bệnh không thể chỉ trông chờ vào thuốc men. Từ nhận thức ấy, đội ngũ y bác sĩ Bệnh viện Nhi đồng 1 đã kiên trì xây dựng nội lực: từng bước đào tạo nhân sự, cử bác sĩ đi học tập ở nước ngoài, tích lũy kinh nghiệm qua từng ca bệnh, để rồi chuẩn bị cho những kỹ thuật ngày càng phức tạp hơn trong tương lai.

Năm 2004, những ca phẫu thuật tim đầu tiên cho trẻ em được thực hiện, đánh dấu bước khởi đầu của chuyên ngành tim mạch nhi. Đến năm 2009, y học Việt Nam tiếp tục tiến thêm một nấc quan trọng khi triển khai thành công các ca mổ tim cho trẻ sơ sinh. Cũng trong năm 2009, đơn vị can thiệp tim mạch tại chỗ (thông tim) chính thức ra đời.

Thế nhưng, càng đi sâu vào điều trị, các bác sĩ càng nhận ra một giới hạn day dứt: với một số dị tật tim bẩm sinh nặng, nếu chờ đến sau sinh mới can thiệp thì đã quá muộn. Ý tưởng “đi trước một bước” - can thiệp ngay khi thai nhi còn trong bụng mẹ từ đó hình thành.

Từ năm 2019, các kỹ thuật chẩn đoán tim thai chuyên sâu được triển khai bài bản, tạo nền tảng cho can thiệp bào thai trong tương lai. Tuy nhiên, để tiếp cận thai nhi, không thể thiếu vai trò của một bệnh viện sản khoa đầu ngành. Và đó là lúc Bệnh viện Từ Dũ trở thành mảnh ghép quyết định.

 - Ảnh 3.

Giữa năm 2023, hai bệnh viện chính thức bắt tay, thành lập ê-kíp liên chuyên khoa sản - nhi - tim mạch, chuẩn bị kỹ lưỡng từng kịch bản. Sáu tháng sau, ngày 4/1/2024, ca đặt ống thông tim bào thai xuyên tử cung đầu tiên tại Việt Nam, cũng là ca đầu tiên tại Đông Nam Á, đã được thực hiện thành công, khép lại một hành trình dài chuẩn bị và mở ra cánh cửa hy vọng mới cho những sinh linh chưa kịp chào đời.

Được biết, một ca can thiệp thông tim bào thai xuyên tử cung trên thế giới dao động từ 130 - 140.000 USD. Ở Việt Nam, dịch vụ hướng tới tất cả những người dân. Đặc biệt, sau khi Bộ Y tế thông qua, mỗi ca phẫu thuật được tính phù hợp với khả năng chi trả của người Việt Nam và được BHYT hỗ trợ chi trả theo quy định.

“Chi phí sẽ cao hơn so với ca phẫu thuật thông thường ở người trưởng thành nhưng vẫn đảm bảo bất cứ sản phụ có hoàn cảnh kinh tế nào cũng có thể tiếp cận kỹ thuật tiên tiến này theo quy định của bảo hiểm y tế", BS.CKII Trần Ngọc Hải chia sẻ.

“Chi phí sẽ cao hơn so với ca phẫu thuật thông thường ở người trưởng thành nhưng vẫn đảm bảo bất cứ sản phụ có hoàn cảnh kinh tế nào cũng có thể tiếp cận kỹ thuật tiên tiến này theo quy định của bảo hiểm y tế"

BS.CKII Trần Ngọc Hải chia sẻ
Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ  - Ảnh 21.
Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ  - Ảnh 23.

Những cái tên mang ơn cứu sinh

Có một chi tiết khá thú vị được bác sĩ Trịnh Nhựt Thư Hương kể lại. Trong số 13 ca can thiệp tim bào thai đã thực hiện thành công, có những em bé khi chào đời được gia đình đặt tên theo tên của các bác sĩ trong ê-kíp, như một cách rất riêng để ghi nhớ hành trình sinh tử đã đi qua.

Ở ca can thiệp đầu tiên, em bé được bố mẹ đặt tên là Vũ Hoàng Hải, lấy theo tên BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ.

Theo BS Thư Hương, thời điểm ấy, nếu không có cái gật đầu mang tính quyết định của bác sĩ Hải, hành trình can thiệp tim bào thai tại Việt Nam có lẽ đã chưa thể bắt đầu. Đó là sự tri ân dành cho người đã đưa ra lựa chọn mở lối cho hành trình can thiệp đầy thử thách và cũng đầy kỳ tích phía sau.

Với ca can thiệp thứ hai, em bé mang tên Hương Giang, được ghép từ tên của hai nữ bác sĩ gắn bó mật thiết với ca bệnh: BS.CKII Trịnh Nhựt Thu Hương và BS.CKII Đỗ Thị Cẩm Giang

 - Ảnh 1.

1 hành trình kỳ diệu đang được viết tiếp

Từ ca đầu tiên đầy dè dặt, đến những ca can thiệp ngày càng phức tạp, thậm chí có yếu tố nước ngoài, hành trình thông tim bào thai xuyên tử cung được xây dựng bằng kiến thức, kỷ luật chuyên môn, sự phối hợp liên viện bền bỉ và trên hết là niềm tin: niềm tin của gia đình bệnh nhân và niềm tin của chính các bác sĩ vào con đường mình đang đi.

Ngày hôm nay, khi kỹ thuật can thiệp tim bào thai đã được Bộ Y tế chính thức phê duyệt, khi Việt Nam dần trở thành điểm đến cuối cùng của những ca bệnh khó trong khu vực, những trái tim bé nhỏ được cứu sống trong tử cung không chỉ là thành quả của y học, mà còn là lời khẳng định lặng lẽ: y học Việt Nam đã và đang đi những bước dài, vững chắc, bằng tri thức, lòng dũng cảm và một tinh thần nhân văn không biên giới.

Và hành trình kỳ diệu ấy vẫn đang được viết tiếp…

Hai bệnh viện, một ê-kíp bác sĩ, và hành trình đi cứu những trái tim nhỏ bằng quả dâu tây ở trong bụng mẹ  - Ảnh 25.